Chia sẻ Vân chẩn bệnh chính xác

Thảo luận trong 'Rao Vặt Tổng Hợp' bắt đầu bởi Lý Kim Thạch, 21/3/17.

Liên kết hữu ích: Cung cấp nam châm hcm | gia cong co khi | Bạn cần bán hay mua? Hãy vào đây diễn đàn mua bán | diễn đàn mua bán | yêu du lịch |

Chia sẻ trang này

  1. Lý Kim Thạch

    Lý Kim Thạch Thành Viên

    Tham gia ngày:
    10/2/17
    Bài viết:
    3
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    1
    Theo bí quyết Việt Đức Dental Spa của bộ vị xu'a thi bên trái là Tlm, Gan, Mật, Thận, Tiểu Trường. Bên phàl là Phổi, lổng ngực, Tỳ, VỊ, Mạng Môn, Đạl Trường. Sách Tam Chi Thiển Mạch Pháp cùa Châu Mộng Giác cho là bên trái: Tlm, Tiểu Trường, Gan, Mật, Thận, Bàng Quang. Bên phàl: Phổi, Đạl Trường, Tỳ, VỊ, Thận, Mạng Môn. Nhùng còn có nghĩa chưa hết, nên phân làm tà Thốn là thuộc Tlm, Bọc Tlm, Tiếu Trường; tà Quan: Gan, Mật; tà Xích: Thận, Bàng Quang và Tiểu Trường; hừu Thốn: Phổi, lổng ngực, Đạl Trường; hữu Quan: Tỳ VỊ; hau Xích: Mạng Môn, Tam Tiêu và Đạl Trường, Tử Cung. BỜI vì Đạl, Tiểu Trường hoặc ghép vào VỚI Tlm Phối là VÌ biểu lý thông nhau, hoặc ghép vào hal bộ Xích là vì ngôi nó nằm dưới. Bọc Tim là thuộc bộ phận mắc liền VỚI Tlm, lóng ngực là thuộc màng bao cùa tạng Phổi. Sau thời NỘI Kinh Trọng Cành không có chẩn Tam Tiêu VÌ chùa biết căn CỘI của Tam Tiêu tức là cuống

    nieng rang khenh
    Thận. Nay đặc biệt ghép vào hau Xích thì nghĩa củng đáy dù hơn.

    Thiên “Mạch Yếu Tinh VI Luận” của NỘI Kinh nól: “Phía ngoài hai bộ Xích là vỊ trí dể nghiệm vùng dùớl sườn chót hal bền hông, đúng ngay lằn mạch nhịp là vị trí dể nghiệm Thận, lệch vào phía trong là VỊ trí dể nghiệm nhũng biến dộng của bụng.

    Chống lên trên bộ Xích là bộ Quan, bên trái (tà Quan), phẩn ngoài là vị trí dể nghiệm Gan, phẩn trong là vị trí dể nghiệm Chẽn vừng. Bên phàl (hũu Quan) phẩn ngoài là vị trí dể nghiệm VỊ, phẩn trong là vị trí dể nghiệm Tỳ.

    Trên bộ Quan là bộ Thốn. Bên phàl (hau Thốn) phía ngoài là vị trí dể nghiệm Phổi, phía trong là VỊ trí để nghiệm giaa vùng lóng ngực (cuống Phối). nẹp răng khểnh Bên trái (tà Thốn) phía ngoài là vị trí dể nghiệm Tim, phía trong là vị trí dể nghiệm Bọc Tlm.

    Cứ hễ phẩn nào trùớc là sắp ờ triíớc, ờ phẩn nồi; phẩn nào sau là sáp ờ sau, ờ phán chìm.

    Hè bộ trên thì thuộc vé nơi để nghiệm các việc phần trên, những chuyện xày ra từ Chẽn vừng trờ lên đẩu. Bộ dưới là thuộc phẩn dưới, là để nghiệm nhũng chuyện xày ra từ rốn trờ xuống đến chân.”

    Căn cứ vào ý này ta hây tạo hal đổ biểu như dưới đây cho tiện bề quan sát:



    Hình vẽ: Con người phân 6 ô, mỗi ô phân 9 ô; và 6 bộ mạch, mỗi bộ phận 9 ô.

    MỖI bộ đều có Phù, Trung, Trám. Từ mặt da đè xuống chỉnh răng khểnh xương phân làm 3 phẩn: phấn trên gọi là Phù, giữa gọi là Trung, phẩn sát xương là Trầm.

    Mạch có 3 bộ 9 hậu, 3 bộ nghĩa là phân ra Thốn, Quan và Xích. 9 hậu là phân ra nổl, giũa, chìm.

    3 bộ 9 hậu này khác VỚI 3 bộ 9 hậu của NỘI Kinh. Nhùng phép 3 bộ 9 hậu của NỘI Kinh căn cứ ờ phép khám khắp đẩu, tay, chân. Phép này người ta bò dã lâu nên phải theo NỘI Kinh lấy Thốn, Quan, Xích làm 3 bộ. 3 bộ đểu có nổl, giũa, chìm để làm chừng mực đo. Thế gọl là 9 hậu.

    Thờ ra thuộc Tim và Phối, hít vào thuộc Thận và Gan. Quăng giùa thờ ra hít vào thuộc Tỳ, ứng vào mạch ờ giũa. NỔI là dương cho nén tạng Tlm, tạng Phối đều thuộc vé Phù. NỔI mà to tán là Phù, Đạl, Tán thuộc Tlm. NỔI mà ngán rít là Phù, Đoàn, Sắc thuộc Phồl. Chim là âm nên Gan, Thận đều thuộc mạch Trẩm. Nhũng Huyen Trường là mạch Gan, còn đè xuống thấy mềm, niềng răng giữ lại răng khểnh nhớm tay lẻn thấy chác Thiệt là thuộc Thận. Tạng Tỳ vì là trung châu, nén mạch phàl ứng ờ chính glùa. Đó là phép theo âm dương vậy.
    Đang tải...

Liên kết hữu ích: diễn đàn nam châm